Sau ưu đãi, mặt bằng lãi vay phổ biến đang ở quanh mức bình quân 11–13%/năm, tính theo lãi tiết kiệm + biên độ. Nhiều ngân hàng có sàn lãi suất tối thiểu nội bộ – cho vay không được dưới mức này.
Nhóm ngân hàng nước ngoài: Do tiếp cận được nguồn vốn huy động lãi suất thấp nên mức chào cho vay của nhóm này gần như thấp nhất thị trường, khoảng 7,5% – 8,1%/năm, thời gian cố định 1–3 năm, nhưng điều kiện vay tương đối chặt chẽ hơn so với nhóm ngân hàng trong nước.
________________________________________
Nhận định nhanh:
Lãi suất cho vay đang đi lên cùng nhịp với lãi suất huy động, đặc biệt sau Tết Tây khi lãi suất huy động đầu vào của một số ngân hàng đã vượt mốc 8%/năm ở các kỳ hạn từ 06 tháng trở lên.
Các khoản vay đến kỳ thả nổi đang chịu áp lực tăng lãi rõ rệt, nhiều ngân hàng lên đến mức 14 – 15%/năm, còn lại phổ biến quanh mức 12-13%/năm.
Với mục tiêu tăng trưởng tín dụng 15%, năm 2026 hệ thống ngân hàng dự kiến bơm thêm khoảng 2,8 triệu tỷ đồng vào nền kinh tế, thấp hơn năm trước 183.000 tỷ đồng.
Dòng vốn được định hướng có chọn lọc, ưu tiên sản xuất kinh doanh và các động lực tăng trưởng, cho thấy nhà điều hành tập trung vào chất lượng tín dụng nhưng vẫn hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.
Duy trì room tín dụng, Ngân hàng Nhà nước cũng đồng thời yêu cầu các ngân hàng tăng trưởng cho vay mỗi quý không quá 25% chỉ tiêu được giao cả năm, nhằm kiểm soát tăng trưởng, tránh giải ngân dồn dập vào cuối quý, cuối năm nên giai đoạn đầu năm này các ngân hàng sẽ lọc khách rất kỹ.
Một số ngân hàng quốc doanh đang ưu tiên room tín dụng cho đầu tư công, hạ tầng, dự án trọng điểm → BĐS vay cá nhân bị siết chọn lọc và có thể mở dần trong các quý cuối năm.
Trong ngắn hạn, lãi vay dự kiến vẫn sẽ neo ở mức tương đối cao; gần như đã qua thời kỳ “vốn rẻ” với các gói vay ưu đãi 5.5%-7%/năm cố định 1-3 năm như thời gian 2024 – 2025.
Người vay cần tính kỹ dòng tiền sau ưu đãi, phân bổ nguồn lực hợp lý để tránh tình trạng dựa quá nhiều vào đòn bẩy tài chính trong thời điểm này.
Nguồn: Tìm nhà cùng Nam